Thừa cân, béo phì – hiểm họa của đái tháo đường và tiền đái tháo đường

  1. Béo phì là gì?

Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), béo phì được định nghĩa là tình trạng tích tụ chất béo bất thường hoặc quá mức làm suy giảm sức khỏe

Chỉ số khối cơ thể (BMI – Body mass index) là chỉ số đơn giản về chiều cao và cân nặng, được sử dụng để phân loại thừa cân và béo phì ở người lớn.

Theo Tổ chức y tế thế giới, đối với người trưởng thành, thừa cân là chỉ số BMI  ≥ 25 kg/m2 và béo phì là chỉ số BMI ≥ 30 kg/m2. Với người Châu Á, thừa cân là khi chỉ số BMI từ 23 – 24,9 kg/m2 và béo phì khi chỉ số BMI ≥ 25 kg/m2.

Béo phì là một căn bệnh mãn tính đang ngày càng phổ biến ở người lớn, thanh thiếu niên và trẻ em, hiện đang được coi là một đại dịch toàn cầu.

  1. Nguyên nhân của thừa cân béo phì

– Chế độ ăn uống và tập luyện: Ăn quá nhiều, chế độ ăn nhiều chất béo trong khi ít vận động thể lực.

– Do các bệnh lý thần kinh nội tiết

+ Béo phì do nguyên nhân hạ đồi: U vùng hạ đồi hoặc sau phẫu thuật vùng hạ đồi làm tăng cảm giác thèm ăn.

+ Hội chứng Cushing

+ Hội chứng buồng trứng đa nang

+ Suy giáp

– Các bệnh lý khác: Suy sinh dục, thiếu hormone tăng trưởng.

– Các yếu tố môi trường xã hội và hành vi

+ Tình trạng kinh tế xã hội: Tại các nước đang phát triển, béo phì hay gặp ở người dân có thu nhập trung bình và cao. Trong khi đó tại các nước phát triển, béo phì hay gặp ở tầng lớp người dân có mức thu nhập thấp, không ổn định.

+ Dân tộc: Người da đen không phải gốcTây Ban Nha và người gốcTây Ban Nha có tỷ lệ béo phì cao hơn so với người da trắng không phải gốcTây Ban Nha

– Yếu tố tâm lý: chứng rối loạn ăn uống vô độ.

– Yếu tố di truyền: đột biến gen, bệnh lý bất thường nhiễm sắc thể.

– Do thuốc: Thuốc chống trầm cảm (3 vòng, 4 vòng, ức chế IMAO), Benzodiazepine

  1. Nguy cơ dẫn đến tiền đái tháo đường và đái tháo đường

Đái tháo đường týp 2 có liên quan mật thiết đến tình trạng béo phì ở tất cả các dân tộc. Hơn 80% trường hợp mắc bệnh tiểu đường typ 2 liên quan đến béo phì. Béo phì cũng là nguyên nhân dẫn đến nhiều ca tử vong liên quan đến đái tháo đường. Tăng cân sau 18 tuổi ở nữ và sau 20 tuổi ở nam cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiền đái tháo đường và đái tháo đường typ 2.

Bệnh nhân béo phì có sự tích tụ mỡ thừa trong các tạng, là một yếu tố quan trọng quyết định đến nguy cơ kháng insulin và bệnh đái tháo đường typ 2. Mức độ đề kháng insulin và tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường loại 2 cao nhất ở những đối tượng béo phì vùng bụng hoặc trung tâm. Kháng insulin dẫn đến hiện tượng tăng insulin máu và làm tăng đường máu dẫn đến nguy cơ mắc tiền đái tháo đường và đái tháo đường typ 2.

Giảm cân làm giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường typ 2 và làm giảm đường máu ở bệnh nhân đái tháo đường.

  1. Hậu quả của béo phì, tiền đái tháo đường và đái tháo đường

Béo phì và tích tụ mỡ trong các tạng có liên quan đến tăng tỷ lệ mắc bệnh liên quan và làm tăng tỷ lệ tử vong. Hơn 230 bệnh đi kèm và biến chứng của bệnh béo phì đã được xác định và giảm cân sẽ cải thiện hầu hết các bệnh này. Những người thừa cân và béo phì có nguy cơ tăng huyết áp, tăng cholesterol máu và đái tháo đường cao hơn so với những người có cân nặng bình thường.

Hậu quả của béo phì, tiền đái tháo đường, đái tháo đường typ 2 đến sức khỏe:

– Tim mạch

+ Tăng huyết áp: bệnh nhân béo phì có nguy cơ bị tăng huyết áp cao gấp 3 lần so với người bình thường.

+ Rối loạn lipid máu: tăng lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL- C) và triglyceride trong huyết thanh và giảm nồng độ của lipoprotein tỷ trọng cao (HDL- C).

+ Làm tăng nguy cơ xơ vữa động mạch và tăng nguy cơ suy tim.

– Nội tiết

+ Tăng nguy cơ mắc tiền đái tháo đường, đái tháo đường týp 2. Béo phì làm tăng đề kháng insulin, gây ra khó khăn cho vấn đề kiểm soát đường máu.

+ Hội chứng chuyển hóa bao gồm béo bụng, tăng đường huyết, rối loạn lipid máu và tăng huyết áp, là những yếu tố nguy cơ của bệnh đái tháo đường typ 2 và bệnh tim mạch do xơ vữa.

+ Làm tăng các nguy cơ biến chứng mạch máu, thần kinh của bệnh nhân mắc đái tháo đường.

+ Trẻ em gái vị thành niên bị béo phì có nhiều nguy cơ mắc chứng cường androgen và hội chứng buồng trứng đa nang.

+ Béo phì cũng liên quan đến giảm khả năng sinh sản.

– Tiêu hóa

+ Béo phì làm tăng nguy cơ bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu

+ Sỏi mật không triệu chứng có thể được phát hiện ở khoảng 2% thanh thiếu niên mắc bệnh béo phì, hầu hết là nữ.

– Bệnh xương khớp:

+ Giảm khả năng vận động và sai lệch chi dưới, gây biến dạng xương đùi và lồi cầu xương chày (bệnh Blount).

+ Tăng tỷ lệ bị gãy xương, gãy xương, đau cơ xương như lưng, chân, đầu gối, mắt cá và bàn chân.

– Tâm lý xã hội: Lo lắng, tự ti, trầm cảm, xa lánh mọi người, rối loạn cách ăn uống

– Bệnh lý hô hấp: 10% trẻ em và thanh thiếu niên bị béo phì có chứng ngưng thở khi ngủ.

– Thận: Bệnh nhân béo phì có nguy cơ bị suy giảm chức năng thận tăng dần.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Costanzo P, Cleland JG, Pellicori P, et al. The obesity paradox in type 2 diabetes mellitus: relationship of body mass index to prognosis: a cohort study. Ann Intern Med 2015; 162:610.
  2. Tobias DK, Pan A, Jackson CL, et al. Body-mass index and mortality among adults with incident type 2 diabetes. N Engl J Med 2014; 370:233.
  3. Peeters A, Barendregt JJ, Willekens F, et al. Obesity in adulthood and its consequences for life expectancy: a life-table analysis. Ann Intern Med 2003; 138:24.

Ths.BS. Đặng Bích Ngọc

Khoa Nội tiết – Đáitháođường, BệnhviệnBạch Mai

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *